La-hầu-la (tiếng Phạn: Rāhula; tiếng Trung: 羅睺羅 nghĩa là Phú Chướng, nghĩa là "sự chướng ngại") là một trong thập đại đệ tử của đức Phật (mật hạnh đệ nhất). Ông cũng là người con duy nhất của Thái Tử Tất-đạt-đa (siddhārtha) còn mẹ của La-hầu-la là công . Chứng quả A La Hán lúc 20 tuổi Ví như ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh của đức Phật, mỗi ngày cầm bình bát khất thực, rửa chân ngồi thiền, hành hóa thuyết pháp, khiến chúng sinh nhập Phật tri kiến, chính là mật hạnh. Lại ví như La Hầu La sám hối sửa lỗi, giữ vững thanh tịnh giới hạnh, trở thành đệ nhất mật hạnh trong đệ tử Phật. Hình ảnh Sa di La Hầu La trong Giáo hội Nguyên thủy cho đến ngàn sau vẫn là hình ảnh tuyệt đẹp của một thiên thần bé nhỏ, xuất gia từ lúc ấu thời và cuối cùng cũng đã sánh vai với chư Thánh trên lộ trình giác ngộ giải thoát. Ngài không chỉ mở đường cho chính mình, mà còn mở đường cho vô số chú tiểu bé nhỏ khác trên khắp thế giới, trong mọi thời đại, bước vào vòm trời cao rộng siêu thoát của nếp sống Thiền môn. Ngài là con ruột của thái tử Tất Đạt Đa. Sau khi xuất gia thì La Hầu La là người có quyền thừa kế vương vị của thành Ca Tỳ La. Năm Ngài lên bảy tuổi cũng là lúc đức Phật về thăm lại quê nhà lần đầu tiên, Ngài đã thân hành theo Phật và đức Phật đã giao việc giáo hóa cho Tôn giả Xá Lợi Phất. Để tẩy trừ được thói vương giả, quen chỉ tay năm ngón của La Hầu La nên đức Phật bảo Xá Lợi Phất giao cho La Hầu La công việc hàng ngày quét dọn tinh xá. Một hôm khác, Tôn giả cùng với Xá Lợi Phất vào thành khất thực, có một số thanh niên mất dạy đã bỏ cát cùng với cơm vào trong bình bát, rồi dùng gậy đánh lên đầu của La Hầu La. Nhìn gương mặt bừng bừng tức giận La Hầu La, Tôn giả Xá Lợi Phất ôn tồn khuyên bảo Nếu là đệ tử Phật, người nên có tinh thần nhẫn nhục, không nên cưu hận trong lòng mà thay vào đó nên luyện tập tâm từ bi thương hại cho chúng sanh, vinh nhục khen chê không đáng để chúng ta quan tâm. Đức Phật đã dạy rằng trên thế gian này không có một sức mạnh nào sánh bằng sự nhẫn nhục. Sự việc này sau khi Phật biết Phật đã dạy thêm rằng Này La Hầu La! Người không biết nhẫn nhục không thể thấy Phật, thuận Pháp, gần Tăng, thường bị đọa lạc vào đường dữ. Có nhẫn nhục mới có bình an, mới tiêu trừ được họa hoạn, khai thông trí tuệ. Trí tuệ tối cao là con đẻ của nhẫn nhục. Người có trí tuệ mới thấy được quả báo thâm viễn, khắc phục sân tâm, thường hành tinh tấn, thể hiện chân tinh thần và chân ý nghĩa của Phật pháp hòa hợp với thế tục mà không bị ô nhiễm. Nhẫn nhục là tăng thượng duyên của đạo pháp, giúp hành giả sớm chứng giải thoát. Nhờ vào sự giáo hóa của Phật và Xá Lợi Phất nên La Hầu La dần bỏ được tính nóng nảy của thói vương giả. Duy chỉ có cái tật hay nói dối, bông đùa để nhằm mua vui thì không sửa được. Nhằm giúp La Hầu La sửa tật này, một hôm Phật bảo La Hầu La mang cho Ngài một chậu nước để Phật rửa chân, rửa chân xong, đức Phật bảo Nước này không thể uống được vì đã ô uế. Nước đã ô uế không dùng được, tâm cũng vậy, mang danh xuất gia mà không tinh tấn tu học, không giữ gìn lời nói, lòng tràng đầy ba ô uế thì cũng như chậu nước này vậy. Đã không dùng thì nên bỏ đi. Phật bảo La Hầu La mang chậu nước đi đổ, một lát sau La Hầu La mang chậu không về. Phật nói tiếp Chậu này không dùng được vì mặt chậu bám đầy chất dơ. Chậu dơ không dùng được, thân thể cũng thế, mang danh xuất gia mà không tu giới định huệ, không thanh tịnh thân khẩu ý, mình dính đầy ba độc cấu uế thì có khác gì cái chậu dơ này. Đã không dùng đến thì thà đập bể còn hơn. Phật đá nhẹ vào khiến cái chậu vỡ làm đôi. Hỏi Nhà ngươi có tiếc cái chậu không? Thưa không, vì là chậu dơ, La Hầu La đáp. Này La Hầu La nhà ngươi không tiếc cái chậu dơ như thế nào thì Tăng đoàn không tiếc người dơ như thế ấy. Mang danh xuất gia mà không giữ uy nghiêm, hý ngôn lộng ngữ thì ai mà thương mến nhà ngươi cho được. Sau đó, đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình. “Cái gương dùng để làm gì?”, Ngài hỏi. “Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi”, La Hầu La đáp. Đức Phật lại dạy “Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm”. Từ đó, La Hầu La thề quyết tâm hoán cải, nghiêm trì giới luật, tinh tấn đạo tâm, suốt ngày kín tiếng lặng hơi, quyết luyện mật hạnh. Tu như vậy mấy năm liền mà vẫn không có kết quả, nhưng nhân một hôm chỉ nghe một câu nói của Phật mà thoát nhiên khai ngộ. Hôm ấy đi du hóa Phật nhìn cảnh đẹp xung quanh mà bảo với La Hầu La rằng Hãy nhìn vào cảnh vật sum suê kia rồi sau đó nhìn vào tâm của mình, để xem thử có cái gì đứng yên một chỗ không? Vô thường! Vô thường tất cả! Nên biết như thế mà đừng để tâm chấp trước vướng mắt vào đâu hết. Sau một thời gian chăm chú luyện mật hạnh, câu nói trên đây của Phật như có sấm đập vào màn nhĩ, khiến La Hầu La thấy choáng váng bèn xin đức Phật cho phép về tịnh xá ngồi thiền. Phật du hóa về cho gọi La Hầu La lên bảo Này La Hầu La! Thầy đã chứng được tận cùng của mật hạnh rồi đấy. Giờ đây hãy mở rộng lòng từ bi, dung nạp tất cả chúng sanh vào lòng. Dung nạp tất cả chúng sanh vào lòng thì tội ác dứt trừ. Bờ đại giác đã gần kề. Lúc đó La Hầu La mới 20 tuổi. La Hầu La nhập Niết Bàn Về sự đản sinh và niết bàn của La Hầu La có hai truyền thuyết Một thuyết cho rằng La Hầu La ra đời năm Thái tử Tất Đạt Đa 19 tuổi, thuyết khác cho rằng La Hầu La chào đời năm Thái Tử Tất Đạt Đa 25 tuổi. Về năm Niết Bàn của La Hầu La cũng có hai truyền thuyết. Một thuyết nói La Hầu La Niết bàn trước Phật vài năm, thuyết khác ghi khi Phật Niết Bàn La Hầu La còn quỳ bên Phật. Theo truyền ký Da Du Đà La cùng tuổi với Phật, nhưng niết bàn năm 78 tuổi như thế là trước Phật 2 năm. Còn La Hầu La niết bàn không quá 50 tuổi trước cả Phật và Da Du Đà La. Trong hàng Thánh chúng, La Hầu La là vị tu chứng trẻ nhất, lúc mới 20 tuổi. Đúng là mê nhất kiếp ngộ nhất thời, vừa vâng lời Phật bỏ tính ham chơi của tuổi trẻ, tu chẳng bao lâu La Hầu La liền chứng thánh vị. Lúc còn là chú tiểu và cả lúc đã thọ sa di, La Hầu La biểu thị tính hồn nhiên, thơ ngây, nghịch ngợm của tuổi trẻ ngày xưa. Bởi thế sau khi nghe giáo huấn của Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất, La Hầu La đã dễ dàng loại trừ những trò chơi trêu chọc nghịch ngợm và gia công trau dồi oai nghi tế hạnh, để chứng thánh quả. Người xưa có nói "Hữu hoạn bất tài, hà hoạn vô vị", nghĩa là chỉ sợ không tài, lo gì không có địa vị. Đối với cuộc đời, người có tài đức nếu vì một lý do nào đó không thành công thì cũng thành nhân. Tôn giả La Hầu La nhờ âm thầm bỏ công rèn luyện oai nghi tế hạnh nên đã trở thành vị Mật Hạnh Đệ Nhất ngay lúc tuổi còn trẻ. Trong công tác của giáo đoàn, dù không có những hoạt động sôi nổi như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, Ca Chiên Diên... nhưng đã chứng Thánh quả A La Hán, Mật Hạnh đệ nhất, La Hầu La đã có vị thế lâu dài trong hàng Thánh chúng Thập đại đệ tử của Đức Phật. Là một trong những bộ phim kinh dị nổi tiếng khiến bao người sợ hãi, The Ring gây ấn tượng nhất bởi phân cảnh cô gái ma bước ra khỏi chiếc giếng, tiến tới và chui qua màn hình. Có lẽ, nhiều người sẽ ấn tượng với những ai làm nên bộ phim vì ý tưởng đáng sợ này, song thực tế, nó lại dựa trên câu chuyện khá nổi tiếng của Nhật Bản. Được biết, câu chuyện xoay quanh linh hồn ma ám ở lâu đài Hạc Trắng, một công trình kiến trúc cổ xưa của Nhật Bản. Nhân vật trong chuyện là một người hầu gái bị giết bởi chiến binh Samurai đem lòng yêu cô. The Ring - Một trong những bộ phim kinh dị nổi tiếng. Ảnh Twitter. The Ring - Bộ phim kinh dị tâm linh đầy ám ảnh The Ring hay Vòng Tròn Định Mệnh là bộ phim kinh dị được ra mắt vào năm 2002. Phim đã nhận được đánh giá cao của người xem khi không chỉ có câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn mà hơn hết là những màn dọa ma vô cùng đáng sợ. Cảnh tượng đặc biệt và gây ám ảnh nhất trong phim có lẽ không gì khác là cô gái với chiếc áo trắng, mái tóc dài rũ rượi kèm theo gương mặt đầy ghê rợn bước ra khỏi chiếc giếng, từ từ bò tới và nhoài người ra màn hình, tóm lấy kẻ nào đứng gần đó. Tạo hình nhân vật của The Ring khiến ai cũng phải hết hồn. Ảnh Pinterest. Phim không chỉ gây sốt ở Mỹ mà rất nhiều khán giả ở các quốc gia khác biết tới The Ring, thậm chí đến hiện tại vẫn còn có nhiều người xem lại tác phẩm kinh dị đáng sợ này. Và nếu tìm hiểu kỹ hơn thì The Ring đã được các nhà làm phim lấy nguồn cảm hứng từ câu chuyện tâm linh của Nhật Bản, đau thương nhưng cũng vô cùng ám ảnh. Lâu đài Hạc Trắng, nơi xuất phát của câu chuyện tâm linh liên quan đến The Ring. Ảnh Reddit. >> Xem thêm Phim kinh dị Trung Quốc ghê rợn Nhà ma, trò gọi hồn đều có đủ Bắt nguồn từ câu chuyện tâm linh của Nhật Bản Lấy ý tưởng từ câu chuyện tâm linh của Nhật Bản kể về một chiến binh Samurai sát hại người mình yêu để trả thù. Cụ thể, chiến binh Samurai ấy có tên là Tessan Aoyama, anh đã để mắt đến một người hầu gái Okiku nhưng tiếc thay cô lại không đáp lại tình cảm của anh. Tức giận vì không có được tình cảm của Okiku, Tessan đã lên kế hoạch để giành lấy người đẹp. Biết được nhiệm vụ của Okiku là canh giữ 10 chiếc đĩa vàng quý giá, Tessan đã trà trộn vào và lấy đi 1 chiếc để đe dọa người thương. Tessan nói với cô rằng, nếu không chấp nhận tình cảm, hắn sẽ tố cô ăn cắp đĩa vàng. Tessan Aoyama và người hầu gái được mô tả bằng tranh. Ảnh Pinterest. Tới đây, câu chuyện có 2 giả thuyết về cái chết của Okiku. Một là vì Tessan đã quá tức giận nên ném người thương xuống giếng, hoặc hai là chính Okiku đã tự kết liễu đời mình để thoát khỏi tình cảnh éo le. Và dù có là giả thuyết nào thì sau cùng, kết cục của câu chuyện cũng là Okiku đã chết, rồi hàng đêm, tiếng đếm từ 1 đến 9 vang vọng khắp lâu đài xuất phát phát từ miệng giếng. Ngày ngày trôi qua, tiếng đếm cứ kéo dài suốt nhiều đêm khiến cho Tessan phát điên. Dù tới nay vẫn chưa được chứng thực, song mỗi khi nhắc đến lâu đài Hạc Trắng, người ta vẫn không khỏi rùng mình bởi câu chuyện đáng sợ của người hầu gái Okiku. Người hầu gái hiện về trong đêm, đếm từng chiếc đĩa khiến câu chuyện càng thêm ám ảnh. Ảnh Pinterest. >> Có thể bạn quan tâm Những phiên bản truyện cổ tích không dành cho trẻ em Lâu đài Hạc Trắng Công trình đứng vững sừng sững dù trải qua nhiều biến cố Được xây dựng từ năm 1333, tọa lạc tại thành phố Himeji tỉnh Hyogo, lâu đài Hạc Trắng hay còn gọi là lâu đài Himeji vốn là địa điểm tham quan nổi tiếng của Nhật Bản. Tại đây, du khách có thể ngắm hoa anh đào, lá vàng và lá đỏ vô cùng đẹp mắt. Lâu đài Hạc Trắng với lối kiến trúc nguy nga tráng lệ. Ảnh Reddit. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, lâu đài Hạc Trắng khiến nhiều người trầm trồ bởi sự vững trãi của nó khi vượt qua biết bao biến cố lịch sử. Thời điểm diễn ra Thế chiến thứ 2, Himeji được đánh giá là khu vực trọng yếu để tấn công nhưng lâu đài Hạc Trắng vẫn không hề hấn gì và vượt qua giai đoạn chiến tranh. Năm 1995, thảm họa động đất Kobe cũng không thể "đánh bại" được tòa lâu đài trắng. Được biết, năm 1993, lâu đài Hạc Trắng được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới và là Bảo vật Quốc gia của xứ sở Mặt trời mọc. Nơi đây được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới và là nơi chứa đựng nhiều câu chuyện tâm linh đầy bí ẩn. Ảnh Pinterest. >> Có thể bạn chưa xem Bạn đang buồn vì mình béo? Khoa học bảo hãy xem phim kinh dị để giảm cân! Là nguồn cảm hứng của bộ phim kinh dị đình đám The Ring, câu chuyện tâm linh về chiến binh Samurai Tessan Aoyama và người hầu gái Okiku tại lâu đài Hạc Trắng đã khiến nhiều người phải lạnh tóc gáy. Còn bạn, bạn cảm thấy thế nào về nguồn cảm hứng của The Ring? Cùng chia sẻ về cảm nghĩ của mình nhé! Cùng đón xem những tin tức phim ảnh mới nhất từ YAN nha! NHỮNG BỘ PHIM KINH DỊ ĐÁNG XEM NHẤT Ngoài The Ring, màn ảnh rộng còn có khá nhiều bộ phim kinh dị ghê rợn đáng xem khiến khán giả phải lạnh tóc gáy. Ví như loạt phim Ma Búp Bê kể về những câu chuyện kì quái đầy ám ảnh liên quan đến búp bê và chúng cũng có cái tên “dễ nhớ”, đó là Annabelle. Ác Quỷ Ma Sơ cũng là một trong những phim kinh dị vô cùng đáng sợ với tạo hình ám ảnh đầy ghê rợn của Valak. Ma gương, một bộ kinh dị đáng xem với nhiều tình tiết ghê rợn, nội dung cuốn hút khiến người xem khó có thể rời mắt dù có sợ hãi đến đâu. Xem thêm chi tiết TẠI ĐÂY! Tìm hiểu thêm về những câu chuyện kinh dị TẠI ĐÂY nhé! Cái chết không đơn giản là lìa bỏ sự sống như lâu nay bạn vẫn nghĩ đâu, mà chết là một tiến trình duyên sinh phức tạp. “Con người đối mặt với hai thứ chết Chết phi thời và chết do chấm sứt thọ mạng. Chết phi thời có thể tránh nhờ những phương pháp để kéo dài thọ mạng. Tuy nhiên, khi nguyên nhân cái chết là thọ mạng tận, thì bạn như một cây đèn đã hết dầu. Không thể nào tránh cái chết bằng cách lừa bịp nó, bạn phải sẵn sàng ra đi.”Vấn đề là bạn sẽ đi đâu? Tử thư Tây Tạng và Tạng Thư Sống Chết cho ta thấy những kinh nghiệm và giáo lý vô cùng kỳ lạ về cái chết, linh hồn và tái sanh. Quá trình chết diễn ra như thế nào, linh hồn sẽ đi về đâu, sẽ tái sanh như thế nào, giải thoát hay lại trầm luân trong sáu nẻo luân hồi?! Sáu nẻo luân hồi. Nhân quả luân hồi. Địa Ngục là gì. Quỷ thần là gì. Thiên Ma là loại ma gì. 10 chuyện Tâm linh có thật. Tam giới là gì. Thực ra hầu hết chúng ta đều chưa biết gì về cái chết. Người đời thấy tắt hơi cho là đã chết, nhưng không, tắt hơi chỉ là bước khởi đầu của tiến trình chết. Đây là quá trình xảy ra sau khi một người đã tắt hơi. Tiến trình này được chia làm hai giai đoạn Sự tan rã bên ngoài của Tứ đại và Sự tan rã bên trong của nội tâm. Các dấu hiệu của cái Chết 1. Sự tan rã bên ngoài của Tứ đại Sự tan rã của tứ đại là một điều vô cùng kinh khủng, theo “Tạng thư sống chết” thì Sự tan rã bên ngoài xảy ra khi các giác quan và tứ đại phân tán. Chúng ta thực sự kinh qua điều này như thế nào khi chết ? iều trước tiên chúng ta có thể ý thức là các giác quan ta ngưng hoạt động như thế nào. Nếu người đứng xung quanh giường ta đang nói chuyện, sẽ đến một lúc ta không thể nghe ra một lời nào. ây là dấu hiệu nhĩ thức đã ngưng hoạt động. Ta nhìn một vật trước mặt, mà chỉ có thể thấy hình dạng lờ mờ, không rõ chi tiết. ấy là dấu hiệu nhãn thức đã suy. Và việc cũng xảy ra tương tự đối với các khả năng ngửi, nếm, sờ. Khi các giác quan không còn được cảm nhận một cách trọn vẹn, đó là giai đoạn đầu tiên của tiến trình tan rã. Bốn giai đoạn tan rã kế tiếp đi kèm với sự tan rã của bốn đại Sự tan rã của ịa đại Thân xác chúng ta khởi sự mất hết sức mạnh. Chúng ta kiệt quệ, không còn chút năng lực nào. Không thể đứng lên, ngồi thẳng, hay cầm bất cứ vật gì. Ta không còn giữ được cái đầu của ta. Ta cảm thấy như mình đang té xuống, đang nhận chìm xuống đất, hay đang bị một sức nặng ghê gớm nghiền nát. Kinh điển mô tả như là trái núi khổng lồ đang ép xuống người ta, và ta đang bị nó nghiền nát. Ta cảm thấy nặng nề, khó chịu trong bất cứ tư thế nào. Ta có thể yêu cầu đỡ ta lên, chồng gối cao lên, lấy hết mền trên người ra. Màu da của ta phai nhạt và một màu tái xanh xuất hiện. Má ta hóp lại, và những vết đen xuất hiện trên răng. Càng lúc ta càng thấy khó mở mắt nhắm mắt. Khi sắc uẩn phân tán, ta trở nên yếu đuối mong manh. Tâm ta giao động, nói nhảm, nhưng rồi lại chìm vào hôn trầm. ấy là những dấu hiệu địa đại đang rút vào thủy đại. iều này có nghĩa rằng gió liên hệ đến địa đại đang trở thành ít có khả năng cung cấp một nền tảng cho ý thức và khả năng của thủy đại bây giờ rõ rệt hơn. Bởi thế, “dấu hiệu bí mật” xuất hiện trong tâm lúc đó là thấy một hình ảnh chập chờn. Sự tan rã của Thủy đại Chúng ta khởi sự mất khả năng kiểm soát chất lỏng trong thân. Mũi ta bắt đầu chảy nước, và miệng rỏ nước miếng. Có thể có nước mắt chảy ra, và ta cũng có thể mất hết sự tự chế. Ta không thể nào di động cái lưỡi. Mắt ta khởi sự cảm thấy khô cạn trong lỗ mắt. Môi ta thụt vào, không còn chút sắc máu; miệng và cổ họng bế tắc. Những lỗ mủi ta lún vào, và ta cảm thấy rất khát nước. Ta run rẩy, co giật. Mùi tử khí bắt đầu phảng phất xung quanh. Khi thọ uẩn phân tán, thì những cảm giác của thân yếu dần ; khi khổ khi vui ; lúc nóng lúc lạnh. Tâm ta đâm ra mờ mịt, bất mãn, cáu tức, và nóng nảy. Một vài kinh điển nói chúng ta cảm thấy như mình bị dìm trong đại dương hay cuốn trôi trong dòng nước lớn. Thủy đại đang tan rã vào hỏa đại, bây giờ hỏa đại thắng lướt và có khả năng nâng đỡ tâm thức. Bởi thế, “dấu hiệu bí mật” là người sắp chết thấy một đám mờ như khói cuộn. Sự tan rã của Hỏa đại Miệng và mũi chúng ta hoàn toàn khô cạn. Tất cả hơi ấm trong cơ thể bắt đầu mất dần, từ chân tay cho đến tim. Có thể có một luồng khói xuất từ đỉnh đầu. Hơi thở lạnh giá khi qua miệng và mũi. Ta không còn có thể uống hay tiêu hóa bất cứ thứ gì. Tưởng uẩn đang phân tán, và tâm ta lơ lửng giữa sáng suốt và mê mờ. Ta không thể nhớ được tên bà con, bè bạn, hay nhận ra họ là ai. Càng lúc ta càng khó nhận ra cái gì bên ngoài, vì âm thanh và cái thấy lẫn lộn. Kalu Rinpoche viết “ối với người sắp chết, kinh nghiệm bên trong là như thể bị nuốt chửng trong một ngọn lửa lớn, ở giữa một cái hỏa lò hừng hực, hay toàn thế giới đang bị thiêu đốt”. Hỏa đại đang tan vào phong đại, nên bây giờ nó không có thể làm nền tảng cho tâm thức được nữa, mà khả năng của phong đại thì rõ rệt hơn. Bởi thế dấu hiệu bí mật là những đóm sáng chập chờn trên một ngọn lửa mở ra, như những con đom đóm. Sự tan rã của Phong đại Càng lúc càng khó thở. Không khí dường như thoát ra ngõ yết hầu chúng ta. Chúng ta khởi sự thở hào hển. Nhưng hơi thở vào càng lúc càng ngắn và khó nhọc, hơi thở ra càng lúc càng dài. Mắt chúng ta trợn trừng lên, và chúng ta hoàn toàn bất động. Khi hành uẩn phân tán, tâm trở nên hoang dã, không biết gì về thế giới bên ngoài. Mọi sự trở nên một khối mờ mịt. Cảm giác liên lạc cuối cùng của chúng ta với hoàn cảnh vật lý đang tan mất. Chúng ta khởi sự có những ảo giác và thấy các cảnh tượng Nếu trong đời ta đã tạo nhiều nghiệp ác, ta có thể trông thấy những hình thù ghê rợn. Những ám ảnh và những giây phút kinh hãi của đời ta bây giờ quay lại, và có khi chúng ta cố la lên vì kinh hoàng. Nếu chúng ta đã sống đời có lòng tử tế xót thương, thì chúng ta có thể kinh nghiệm những cảnh thiên đường đầy hỷ lạc, và “gặp” những bạn bè thân yêu, hoặc những bậc giác ngộ. Với những người đã sống đời lương thiện, thì khi chết có sự an bình thay vì hãi sợ. * Kallu Rinpoche viết “Kinh nghiệm nội tâm đối với người sắp chết là một ngọn cuồng phong quét sạch toàn thế giới, kể cả chính mình, một trận gió xoáy cuốn hút toàn vũ trụ”. iều đang xảy đến là phong đại đang tan vào tâm thức. Những ngọn gió đều tập hợp lại trong “gió nâng đỡ đời sống” nằm ở tim. Bởi thế, “dấu hiệu bí mật” là người chết thấy một ngọn đuốc hay đèn đỏ rực. Hơi thở vào càng nông cạn, hơi thở ra càng sâu. Ở thời điểm này, máu tụ lại đi vào trong “kinh mạch của sự sống” nằm chính giữa tim ta. Ba giọt máu lần lượt tụ lại, gây nên ba hơi thở ra cuối cùng. Rồi thình lình, hơi thở chúng ta chấm dứt. Chỉ một chút hơi ấm còn ở lại nơi tim ta. Mọi dấu hiệu của sự sống không còn, và đây là điểm mà sự xét nghiệm lâm sàng cho là “chết”. Nhưng những bậc thầy Tây Tạng nói đến một tiến trình bên trong vẫn còn tiếp diễn. Thời gian giữa sự ngưng thở và thời gian chấm dứt “hơi thở bên trong” được cho là “khoảng chừng bữa ăn”, tức khoảng 20 phút. Nhưng không có gì chắc chắn, và toàn thể tiến trình này có thể xảy ra rất nhanh… Các dấu hiệu của cái Chết 2. Sự tan rã bên trong Trong quá trình tan rã nội tâm, ở đấy những tâm trạng và cảm xúc từ thô đến tế tan rã, có bốn tầng lớp tâm thức vi tế được gặp gỡ. Ở dây tiến trình chết phản ảnh ngược lại với tiến trình đầu thai. Khi tinh huyết cha mẹ gặp gỡ, tâm thức ta do nghiệp thúc đẩy, bị kéo vào. Trong thời kỳ phát triển bào thai. Tinh chất của cha Một hạt nhân “trắng và phúc lạc” an trú trong luân xa ở đỉnh đầu, trên cùng của huyệt đạo trung ương. Tinh chất của người mẹ Một hạt nhân “đỏ và nóng”, an trú trong luân năm dưới rốn chừng bốn ngón tay. Chính từ nơi hai tinh chất này mà những giai đoạn kế tiếp của sự tan rã xảy ra. Với sự biến mất của ngọn gió giữ nó lại đấy, tinh chất màu trắng đi xuống huyệt đạo về phía trái tim. Bên ngoài có tướng màu “trắng” hiện ra như “một bầu trời trong sáng dưới ánh trăng”. Bên trong, ý thức chúng ta trở nên vô cùng sáng suốt. Tất cả những tâm trạng do sân giận, gồm 33 thứ, đi đến chấm dứt. Giai đoạn này gọi là “Xuất hiện”. Rồi tinh chất của mẹ bắt đầu đi lên qua huyệt đạo trung ương, khi ngọn gió giữ nó nguyên chỗ đã biến mất. * Tướng bên ngoài là một màu “đỏ” như mặt trời chiếu trên nền trời trong. Bên trong, có một cảm giác phúc lạc phát sinh. Những tâm trạng do tham dục, gồm 40 thứ tất cả, ngưng hoạt động. Giai đoạn này gọi là “Tăng trưởng” . Khi hai tinh chất đỏ trắng gặp gỡ ở tim, tâm thức được kèm theo trong ấy. Tulku Urgyen Rinpoche, một bậc thầy lỗi lạc ở Nepal nói “Kinh nghiệm ấy giống như bầu trời và trái đất gặp nhau” . Bên ngoài, chúng ta thấy xuất hiện một màu “đen” giống như một bầu trời trống rỗng chìm trong màn đêm dày đặc. Tướng bên trong là một trạng thái tâm thức không có tư tưởng. Bảy trạng thái tâm do ngu si và vọng tưởng đi đến chấm dứt. iều này được gọi là “Thành tựu”. Khi chúng ta hơi tỉnh giác trở lại, Ánh sáng Căn bản lóe lên như một bầu trời vô nhiễm không mây mù. ôi khi đấy gọi là “tâm với ánh sáng trong của sự chết”. ức Dalai Lama nói “Tâm thức này là tâm thức sâu xa nhất. Chúng ta gọi nó là Phật tính, suối nguồn thực sự của mọi thức. Dòng tương tục của tâm thức này kéo dài ngay cả đến khi thành Phật quả. Cái chết của “các độc tố” Thế thì cái gì xảy ra khi ta chết ? Nó giống như ta trở về trạng thái nguyên ủy của ta. Mọi sự đều tan rã, khi thân và tâm đã được gỡ rối. Ba độc tham, sân, si cùng chết. Điều này có nghĩa là tất cả những cảm xúc tiêu cực, gốc rễ của sinh tử, thực sự chấm dứt, và khi ấy có một khoảng hở. Tiến trình ấy đưa chúng ta đi đâu? i trở về nền tảng nguyên ủy của tự tánh tâm, trong tất cả vẻ đơn giản tự nhiên và thuần khiết của nó. Bấy giờ mọi thứ che mờ nó đã bị dời bỏ, và bản lai diện mục của chúng ta hiển lộ. Một trạng thái tương tự có thể xảy ra như khi chúng ta thực hành thiền quán và có những kinh nghiệm hỷ lạc, trong sáng, vô tưởng Điều này chứng tỏ tham, sân, si đã tạm thời tan rã. * Khi tham, sân, si chết, thì chúng ta càng trở nên thanh tịnh. Các bậc thầy nói rằng, tất cả chúng sanh, cho đến loài côn trùng nhỏ nhất cũng trải qua tiến trình này. Trong trường hợp chết bất ngờ hay chết vì tai nạn, tiến trình này cũng vẫn xảy ra, nhưng cực kỳ nhanh chóng. Tôi đã thấy rằng cách dễ nhất để hiểu cái gì xảy ra trong tiến trình chết, với sự tan rã bên trong và bên ngoài của nó. Là xem nó như một phát triển tuần tự và sự sinh khởi của những tầng lớp tâm thức càng lúc càng vi tế dần. Mỗi tầng lớp nổi lên trên sự tan rã liên tục của hợp thể thân tâm. Khi tiến trình tuần tự di chuyển về hướng ở đấy có sự hiển lộ cái tâm vi tế hơn tất cả Ánh sáng căn bản hay iểm Linh Quang. Chết là cơ hội giải thoát ngàn năm có một Khi chết tất cả những hợp thể của thân tâm ta đều bị tước bỏ, phân tán. Khi thân xác chết, giác quan và đại chủng vi tế tan rã. Tiếp theo đó là cái chết của các khía cạnh tâm thông thường, với những cảm xúc tiêu cực của nó như tham, sân, si. Cuối cùng không còn gì để che mờ bản chất thực của ta, vì mọi thế sự vây phủ cái tâm giác ngộ đã rơi rụng. Và khi ấy, cái được hiển bày là nền tảng tối sơ của bản chất tuyệt đối chúng ta, như một bầu trời trong sáng không mây. iều này gọi là sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản, hay “iểm Linh Quang”. Khi chính tâm thức cũng tan vào trong không gian bao la của chân lý. Tử Thư Tây Tạng nói về giây phút này như sau Bản chất vạn pháp là khoáng đạt, trống rỗng, trơ trụi như bầu trời. Sự trống rỗng sáng chói, không có tâm điểm hay chu vi Tính giác của tâm, hay Rigpa, xuất hiện. Padmasambhava mô tả ánh sáng ấy như sau * iểm Linh quang tự sinh ấy, từ khởi thủy chưa từng sinh. Là con đẻ của Rigpa, tự nó không cha mẹ – lạ lùng thay ! Trí tuệ tự sinh ấy chưa từng được ai tạo ra – lạ lùng thay ! Nó chưa từng sinh, và không gì trong nó để gây ra sự chết – lạ lùng thay ! Nó thấy, mà không ai là người thấy nó – lạ lùng thay ! Nó du hành qua sinh tử mà không hại gì – lạ lùng thay ! Nó thấy Phật tính, nhưng cũng không lợi gì – lạ lùng thay ! Nó hiện hữu trong mọi người, mọi nơi, mà không ai nhận ra nó – lạ lùng thay! Người ta lại mong đạt một kết quả nào khác bên ngoài – lạ lùng thay ! Mặc dù nó là vật của bạn, bạn lại đi tìm nó ở chỗ khác – lạ lùng thay ! Sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản hay iểm linh quang vào lúc chết là cơ hội ngàn năm một thuở để giải thoát. Nhưng điều cốt yếu là phải nhận ra cơ hội ấy. Một vài nhà văn và nhà nghiên cứu tân thời về cái chết đã coi thường sự sâu sắc của giây phút ấy. Vì họ đã đọc và giải thích Tử Thư Tây Tạng mà không được sự chỉ giáo khẩu truyền. Không tu tập để hiểu ý nghĩa thiêng liêng của nó, nên họ đã đơn giản hóa quá mức và nhảy bổ đến những kết luận vội vàng. * Họ cho rằng sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản chính là giác ngộ. Tất cả chúng ta đều ưa đồng hóa cái chết với thiên đường hay giác ngộ. Nhưng điều quan trọng hơn sự mong ước ấy là phải biết rằng chỉ khi chúng ta đã thực sự được khai ngộ bản tâm, hay Tính giác Rigpa; Chỉ khi chúng ta đã an trú nó nhờ thiền định và thể nhập nó trong đời sống hàng ngày của ta, thì cái thời điểm chết mới thực sự đem lại một cơ hội để giải thoát. Mặc dù Ánh sáng Căn bản hiện ra cho tất cả chúng ta một cách tự nhiên. Song phần đông chúng ta hoàn toàn không sẵn sàng để đón nhận tính bao la thuần túy, chiều sâu rộng vi tế, tính giản dị sơ nguyên của nó. a số chúng ta không có cách gì để nhận ra nó. Vì trong đời chúng ta chưa từng quen thuộc với những phương thức nhận ra nó. Khi ấy, điều xảy đến là, theo bản năng, chúng ta có khuynh hướng phản ứng lại. Do những nỗi sợ hãi quá khứ của ta, do tập quán, hoàn cảnh, tất cả những phản xạ cũ của ta. Mặc dù những cảm xúc tiêu cực có chết đi thì Ánh sáng Căn bản mới xuất hiện. Song tập quán của nhiều đời vẫn còn, ẩn nấp trong hậu trường của tâm phàm tình chúng ta. Mặc dù mọi rối ren mờ mịt của chúng ta chết đi lúc thân ta chết. Song thay vì quy phục, đón nhận ánh sáng, thì vì sợ hãi và vô minh, chúng ta lùi lại. Và theo bản năng bám lấy những gì ta đã từng bám giữ. * ấy chính là nguyên nhân ngăn cản chúng ta lợi dụng thời điểm mãnh liệt này làm cơ hội giải thoát. Padmasambhava nói “Tất cả hữu tình đã sống và chết vô số lần. Chúng đã nhiều lần kinh nghiệm Ánh sáng khôn tả này, nhưng vì bóng tối vô minh làm mờ mịt, chúng vẫn lang thang bất tận trong sinh tử” . Ánh sáng Căn bản xuất hiện, đối với một hành giả, nó kéo dài bao lâu vị ấy an trú không tán loạn vào tự tánh tâm. Nhưng đối với phần đông, nó kéo dài không lâu hơn một búng tay, và với vài người, nó kéo dài “khoảng chừng một bữa ăn”. Phần đông người tuyệt nhiên không nhận ra Ánh sáng Căn bản, thay vì thế, họ rơi vào một trạng thái ngất xỉu có thể kéo dài ba ngày rưỡi. Sau đó thần thức mới thực sự rời khỏi thể xác. Đến đây mới được xác định chính xác là một người đã chết. Chết là gì – Theo Tạng Thư Sống Chết Tuệ Tâm 2020. La Hầu La được xuất gia học đạo lúc 7 tuổi, do đó ý nghĩ, lời nói, hành động còn thô tháo. Phật bảo La Hầu La rằng “Con hãy về ở tịnh xá Hiền Độ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu giới hạnh”. La Hầu La vâng theo lời Phật về ở tịnh xá Hiền Độ 90 ngày, sám hối ăn năn hành trì ngày đêm không dừng nghỉ. Đức Phật đến thăm và bảo La Hầu La rằng Con hãy bưng chậu nước sạch đến đây để rửa chân cho ta. La Hầu La vâng lời rửa chân cho Phật. Khi rửa chân xong, Phật hỏi La Hầu La Con có thấy nước rửa chân trong chậu kia không? Kính bạch Thế Tôn, con đã thấy nước ấy đã dơ bẩn rồi! Vậy nước ấy có thể dùng để ăn uống, súc miệng hay rửa mặt được không? Đức Phật hỏi tiếpKính bạch Thế Tôn, nước ấy không thể dùng xài bình thường được vì đã nhiễm bẩn nhơ đục. Phật dạy tiếp Ngươi là con ta, cháu nội vua Tịnh Phạn, nay đã xuất gia học đạo giác ngộ giải thoát bỏ sự vui sướng tạm bợ ở đời, làm Sa môn Thích tử nếu không siêng năng tinh tấn, giữ thân miệng ý trong sạch thì phải bị phiền não tham, sân, si làm vẫn đục tâm ý, cũng như nước dơ kia không thể dùng được! Nói xong Phật dạy tiếp Con hãy đổ chậu nước dơ kia đi! La Hầu La liền vâng lời làm nói Chậu kia nay đã không còn nước dơ bẩn nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không? Kính bạch Thế Tôn, không thể dùng được vì đã nhiễm bẩn. Phật dạy La Hầu La Con cũng như vậy, tuy làm Sa môn mà không giữ gìn thân miệng ý trong sạch, giống như cái chậu dơ kia, không thể đựng đồ ăn uống được. Nói xong, Phật lấy chân đạp mạnh cái chậu khiến nó chạy lăn tròn, nghiêng ngã qua lại vài lần rồi mới dừng lại. Phật bảo La Hầu LaCon bây giờ có còn tiếc cái chậu này không? Kính bạch Thế Tôn, cái chậu rửa chân kia là vật không còn giá trị nữa. Trong thân tâm con, tuy có tiếc rẻ đôi chút nhưng nó không còn làm cho con quyến luyến nữa. Phật bảo La Hầu La Con cũng như vậy, tuy làm Sa môn nhưng không nhất tâm tu hành để thân miệng ý làm não loạn khiến nhiều người buồn phiền, khi chết đọa ba đường dữ, các bậc Hiền thánh không ai thương tiếc giống như cái chậu kia. La Hầu La khi nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và ăn năn sám hối những lỗi lầm đã phạm phải. Đây là câu chuyện mang đậm chất triết học Phật giáo trong nền văn hóa giáo dục Phật giáo Ấn Độ, thể hiện nhân cách đạo đức sống của một người tu hành vì lợi ích tha nhân. Trong cuộc sống, người thầy giỏi là người khéo léo chỉ dạy tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết của mọi người. Đức Phật đã dùng phương tiện thiện xảo bằng cách hỏi đáp để cho La Hầu La phải dùng trí tuệ để soi sáng mới nhận ra bí quyết tu hành. Thế Tôn, trong phương pháp giáo dục của Ngài đối với các đệ tử theo nguyên tắc “khế cơ”, “khế lý”, “khế thời”, vừa “khích lệ”… lại vừa vận dụng các thí dụ với các hình ảnh cụ thể, quen thuộc trong công việc thường ngày để hướng dẫn chỉ dạy cho người nghe thấy được tác hại của nó mà quyết tâm dứt trừ. Hình ảnh nước dơ trong chậu là ẩn dụ cho phiền não tham sân si của mỗi người, nhằm giúp ta quán xét lại chính mình, bởi lỗi lầm phát sinh là do không chánh niệm tỉnh giác trong từng phút giây. Tu là sửa, là gội rửa thân tâm dính mắc vào mọi hiện tượng sự vật rồi sinh ra chấp trước mà thấy có ta người chúng sinh, nên chịu luân hồi sống chết trong vô số kiếp mà không có ngày ra khỏi. Chúng ta thật diễm phúc thay mới được Thế Tôn sử dụng những phương pháp giáo dục rất thực tế, rõ ràng minh bạch, dễ hiểu nhằm thức tỉnh tâm loạn động mà quay lại sống với tâm Phật sáng suốt ngay nơi thân này. Khi các đệ tử của Ngài bị ràng buộc bởi bóng tối vô minh thì Phật dùng ánh sáng trí tuệ để chuyển hóa, khi khổ đau thì dùng hạnh phúc để xóa tan bao phiền muộn. Qua câu chuyện trên, Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta một phương pháp giáo dục rất khoa học và nhân bản nhằm đánh thức tiềm năng của mỗi người mà biết cách làm chủ bản thân qua thân, miệng, ý. Thế Tôn đã xuất hiện ở đời như một nhà giáo dục mang nặng sắc thái đậm chất con người qua nhiều câu chuyện ngụ ngôn, thí dụ nhằm khai mở trí tuệ tự tâm mà chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

cái chết của la hầu la